MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA TÀI SẢN TIỀN HÔN NHÂN CỦA VỢ CHỒNG
Thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân này là cơ chế pháp lý cho phép vợ chồng tự do xác lập quyền sở hữu, quản lý và định đoạt tài sản cá nhân nhưng vẫn đảm bảo được lợi ích chung của hai bên. Trong bài viết này, TNTP sẽ phân tích và làm rõ những vấn đề liên quan đối với thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân giữa vợ và chồng.
1. Định nghĩa về thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân
Pháp luật Việt Nam chưa có quy định chi tiết thế nào là thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân. Bên cạnh đó, Điều 28.1 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (“Luật HNGĐ 2014”) chỉ quy định chung rằng pháp luật cho phép vợ chồng được quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận, nhưng không đề cập đến các thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân, đặc biệt là tài sản hình thành trước thời kỳ hôn nhân của vợ chồng.
Tuy nhiên, có thể hiểu thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân là một thỏa thuận bằng văn bản được xác lập trước thời điểm kết hôn nhằm tạo điều kiện cho các bên chủ động lựa chọn và kiểm soát các quyền, nghĩa vụ pháp lý trong việc xác định căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng cũng như nguyên tắc phân chia tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi chấm dứt hôn nhân.
2. Căn cứ xác lập, phát sinh hiệu lực của thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân
Trường hợp vợ chồng muốn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận phân chia tài sản này cần phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 47 Luật HNGĐ 2014, cụ thể:
_ Về thời điểm xác lập thỏa thuận: Vợ chồng phải thực hiện việc xác lập thỏa thuận phân chia tài sản trước khi cả hai kết hôn;
_ Về hình thức: Thỏa thuận phân chia tài sản phải được lập thành văn bản và có .
Sau khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên và xác lập được thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân thì thỏa thuận này sẽ có hiệu lực kể từ ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn.
3. Nội dung cơ bản của thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân
Mặc dù Luật HNGĐ 2014 không đề cập cụ thể đến “Thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân”, tuy nhiên những nội dung cơ bản cần thiết cho thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng đã được quy định tại Điều 48.1 Luật HNGĐ 2014. Do đó, các căn cứ này có thể được áp dụng để xác định các nội dung và điều kiện mà một thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân cần có nhằm đảm bảo tính hợp pháp, tính rõ ràng và hiệu lực thực tiễn của thỏa thuận.
Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng trong thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân có thể được thực hiện như sau:
_ Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
_ Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ và chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
_ Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người đó;
_ Tài sản được xác định tài sản theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
Như vậy, vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản phù hợp với hoàn cảnh, nhu cầu thực tế và có quyền tự do định đoạt về tài sản, miễn là nội dung của thỏa thuận không trái với quy định pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội. Tuy nhiên, khi vợ chồng thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì sẽ áp dụng các quy định của chế độ tài sản theo luật định để giải quyết.
4. Sửa bổi, bổ sung nội dung thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân
Căn cứ theo quy định Điều 49 Luật HNGĐ 2014, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung đối với nội dung thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân đã được xác lập trước đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định. Việc sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận phân chia tài sản phải được lập bằng văn bản, công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp và thỏa thuận mới sẽ có hiệu lực kể từ ngày được công chứng hoặc chứng thực.
Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trường hợp vợ hoặc chồng thay đổi nội dung thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người thứ ba thì vợ, chồng có trách nhiệm thông báo, cung cấp đầy đủ thông tin liên quan cho người thứ ba. Nếu vợ, chồng không thực hiện nghĩa vụ này và người thứ ba không biết hoặc không thể biết về sự thay đổi đó, thì người thứ ba được coi là ngay tình, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ sẽ được bảo vệ theo quy định của Bộ luật Dân sự.
5. Thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân của vợ chồng bị vô hiệu
Thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân của vợ chồng sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc một phần nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 50 Luật HNGĐ 2014, cụ thể:
_ Trường hợp thứ nhất, thỏa thuận phân chia tài sản tiền hôn nhân của vợ chồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;
_ Trường hợp thứ hai, thỏa thuận vi phạm một trong các nội dung liên quan đến nguyên tắc về chế độ tài sản của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; giao dịch liên quan đến nhà ở duy nhất của vợ chồng và giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu quyền sử dụng;
_ Trường hợp thứ ba, nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích khác của cha, mẹ, con và thành viên khác trong gia đình.
Trên đây là những chia sẻ pháp lý của TNTP về thỏa thuận phân chia tài sản của vợ chồng thời kỳ tiền hôn nhân. TNTP hy vọng rằng bài viết này sẽ mang lại nhiều thông tin hữu ích đến với bạn đọc.
Trân trọng,
Công ty Luật TNHH Quốc tế TNTP & Các Cộng sự
0944892906
