KHI NÀO ĐƯỢC ÁP DỤNG HÌNH THỨC KỶ LUẬT LAO ĐỘNG SA THẢI? (PHẦN 3)
Trong các bài viết ở phần trước, TNTP đã đề cập đến một số nội dung đáng lưu ý khi áp dụng hình thức kỷ luật lao động sa thải, ở phần này TNTP sẽ tiếp tục phân tích, làm rõ trường hợp người sử dụng lao động được quyền áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động trong hai trường hợp (i) người lao động tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật và (ii) người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng.
3. Người lao động tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật
Căn cứ theo quy định tại Điều 125.3 Bộ Luật Lao Động năm 2019, một trong những trường hợp người sử dụng lao động được quyền áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với người lao động là khi người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật.
Người lao động được xác định có hành vi tái phạm khi người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật. Trong đó, các trường hợp người lao động chưa được xóa kỷ luật mà lại tái phạm sẽ bị xử lý kỷ luật lao động sa thải bao gồm:
– Người lao động bị khiển trách sau 03 tháng hoặc bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương sau 06 tháng hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức sau 03 năm kể từ ngày bị xử lý, nếu không tiếp tục vi phạm kỷ luật lao động thì đương nhiên được xóa kỷ luật.
– Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương sau khi chấp hành được một nửa thời hạn nếu sửa chữa tiến bộ thì có thể được người sử dụng lao động xét giảm thời hạn.
4. Người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng
Theo quy định tại Điều 125.4 Bộ Luật Lao Động năm 2019, người sử dụng lao động có quyền áp dụng hình thức kỷ luật sa thải trong trường hợp người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Quy định của pháp luật lao động hiện hành cũng làm rõ thêm về trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền,…
Lưu ý, trường hợp người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động mà không cần thông báo trước theo quy định tại Điều 36.1.e Bộ Luật Lao Động năm 2019.
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng hành vi tự ý bỏ việc của người lao động không chỉ là căn cứ để người sử dụng lao động áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động, mà trong một số trường hợp người lao động còn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Để đảm bảo tính hợp pháp và khách quan thì việc áp dụng hình thức kỷ luật lao động sa thải cần tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật lao động, đồng thời người sử dụng lao động cần ban hành và thực thi nội quy lao động một cách công khai, rõ ràng, vài bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người lao động trong toàn bộ quy trình xử lý kỷ luật.
Trên đây là những chia sẻ pháp lý của TNTP về các trường hợp người sử dụng lao động được quyền áp dụng hình thức kỷ luật lao động sa thải. TNTP hy vọng thông qua bài viết này, độc giả có thể hiểu rõ và vận dụng đúng quy định của pháp luật trong quan hệ lao động.
Trân trọng.
Công ty Luật TNHH Quốc tế TNTP và Các Cộng sự
0903503285
