CHỨNG CỨ VÀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH KHI TRANH TỤNG TẠI TÒA ÁN
Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, việc nắm vững đặc điểm của chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh khi khởi kiện là yếu tố then chốt để đương sự tuân thủ đúng quy định pháp luật, chủ động thực hiện trách nhiệm pháp lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Bài viết dưới đây của TNTP sẽ phân tích và cung cấp thông tin cho bạn đọc về những nội dung này.
1. Chứng cứ trong vụ việc dân sự là gì?
Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, một tài liệu hoặc thông tin chỉ được công nhận là chứng cứ khi đáp ứng đầy đủ ba điều kiện sau:
– Chứng cứ đó là những thứ có thật trên thực tế;
– Được đương sự và chủ thể liên quan giao nộp hoặc do Tòa án thu thập hợp pháp theo thủ tục quy định; và
– Được Tòa án sử dụng làm căn cứ xác định tình tiết khách quan trong vụ việc, xác định căn cứ và tính hợp pháp của các yêu cầu của đương sự.
Như vậy, để được xem là chứng cứ trong vụ việc dân sự, tài liệu hoặc văn bản phải đồng thời thỏa mãn cả ba yếu tố nêu trên. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định đương sự có thể thu thập chứng cứ từ nhiều nguồn khác nhau như:
– Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.
– Vật chứng.
– Lời khai của đương sự.
– Lời khai của người làm chứng.
– Kết luận giám định.
– Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.
– Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.
– Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.
– Văn bản công chứng, chứng thực.
– Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
2. Nghĩa vụ chứng minh khi tranh tụng tại Tòa án và các trường hợp miễn trừ
Căn cứ các quy định tại Điều 6.1, Điều 70.5, Điều 70.6, và Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự trong vụ việc. Theo đó, khi đương sự đưa ra các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập thì đương sự có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh yêu cầu đó là có cơ sở xác thực, để Tòa án xem xét xử lý hành vi vi phạm của bên còn lại. Việc chứng minh là cần thiết trong vụ việc dân sự nhằm giúp Tòa án hiểu rằng quyền lợi của đương sự đã bị xâm phạm.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ việc, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vẫn cho phép áp dụng một số ngoại lệ đối với nghĩa vụ chứng minh của đương sự.
– Cụ thể, theo Điều 91.1 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, có những trường hợp Tòa án cho phép các đương sự được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh. Chẳng hạn, trong trường hợp người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Tương tự, đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án;
Thậm chí, đối với các vụ việc liên quan đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hoặc xử lý kỷ luật không đúng quy định, nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về người sử dụng lao động.
– Bên cạnh đó, không phải mọi tình tiết, sự kiện trong tố tụng dân sự mà đương sự cung cấp đều cần phải chứng minh. Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận hoặc những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật sẽ được miễn chứng minh. Còn đối với các tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.
– Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cũng quy định rằng nếu trong trường hợp một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.
– Đồng thời, để chứng cứ được Tòa án xem xét, đương sự cần phải tuân thủ quy định tại Điều 96.4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ đối với giai đoạn sơ thẩm. Đương sự phải nộp tài liệu trong thời hạn được Thẩm phán ấn định nhưng việc ấn định sẽ không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Việc không giao nộp được chứng cứ trong thời hạn quy định thì Tòa án sẽ chỉ chấp nhận chứng cứ khi đương sự chứng minh được lý do giao nộp chậm là lý do chính đáng.
3. Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ
Trường hợp đương sự gặp nhiều khó khăn và không thể tự mình thu thập được chứng cứ do đương sự đã thực hiện nhiều biện pháp cần thiết nhưng các cá nhân hoặc tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ, các cá nhân hoặc tổ chức này không phối hợp hoặc từ chối cung cấp chứng cứ cho đương sự. Theo đó, đương sự có thể đề nghị Tòa án tiến hành thu thập hoặc đề nghị ra quyết định yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ phối hợp giao nộp tài liệu, chứng cứ .
Khi đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, đương sự cần phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.
Hy vọng thông qua nội dung bài viết về những thông tin cơ bản liên quan đến chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh khi khởi kiện của đương sự, TNTP sẽ mang đến kiến thức pháp lý hữu ích đến các bạn đọc.
Trân trọng.
Công ty Luật TNHH Quốc tế TNTP và Các Cộng sự
0944892906
