YÊU CẦU PHẢN TỐ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Bị đơn sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án hoặc thụ lý đơn yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có sự nhầm lẫn giữa yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn, làm phát sinh nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án. Bài viết này sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan đến yêu cầu phản tố của bị đơn trong vụ án dân sự, đem đến cái nhìn tổng quan cho bạn đọc về vấn đề này.
1. Định nghĩa về yêu cầu phản tố
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, yêu cầu phản tố là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn về một hoặc một số yêu cầu có liên quan đến yêu cầu khởi kiện và sẽ được giải quyết cùng trong cùng một vụ án do có sự liên quan chặt chẽ giữa các yêu cầu.
Quyền phản tố của bị đơn chỉ phát sinh khi Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp bị đơn cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, họ có thể đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan trực tiếp đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong cùng một vụ án dân sự.
Về bản chất, yêu cầu phản tố mang tính chất của một yêu cầu khởi kiện nên phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một yêu cầu khởi kiện. Một yêu cầu chỉ được xem là phản tố khi được Tòa án xem xét, giải quyết cùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mặc dù trong thực tế, yêu cầu này vẫn có thể được khởi kiện bằng một vụ án độc lập.
2. Các trường hợp bị đơn có thể đưa ra yêu cầu phản tố
Theo Điều 72.4 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc yêu cầu của bị đơn đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn.
Trong vụ án có yêu cầu phản tố, bị đơn được xem như có tư cách của nguyên đơn đối với các yêu cầu mình đưa ra và đồng thời có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Theo đó, tại Điều 200.2 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau:
– Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
– Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
– Yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của nguyên đơn, và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mối liên quan với nhau, việc giải quyết tất cả trong cùng một vụ án sẽ giúp quá trình xét xử diễn ra chính xác và nhanh chóng hơn.
Ngoài các điều kiện cơ bản trên, yêu cầu phản tố phải đáp ứng đầy đủ điều kiện của một yêu cầu khởi kiện để được Tòa án thụ lý. Người đưa ra yêu cầu phản tố phải là bị đơn và yêu cầu này phải liên quan trực tiếp đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Dù pháp luật không quy định riêng về thời hiệu, nhưng yêu cầu phản tố về bản chất có thể xem là một yêu cầu khởi kiện, do đó vẫn phải tuân thủ thời hiệu khởi kiện và phải thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết. Khi bị đơn nộp đơn phản tố bằng văn bản, cũng phải thực hiện nghĩa vụ tạm ứng án phí và đảm bảo các điều kiện tiền tố tụng. Trong trường hợp nguyên đơn rút đơn hoặc vụ án bị đình chỉ, Tòa án vẫn giải quyết yêu cầu phản tố, khi đó bị đơn được xem là nguyên đơn. Nếu thủ tục chưa đầy đủ, Tòa án có thể trả lại đơn yêu cầu phản tố này của bị đơn hoặc bản án có thể bị hủy theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
3. Thời hiệu đối với yêu cầu phản tố của bị đơn
Thời hiệu khởi kiện đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vụ án dân sự. Như đã đề cập, yêu cầu phản tố về bản chất được xem như một dạng của yêu cầu khởi kiện nên các quy định và điều kiện áp dụng đối với yêu cầu khởi kiện cũng được áp dụng tương tự.
Trường hợp bị đơn nộp yêu cầu phản tố khi thời hiệu khởi kiện đã hết, thẩm phán có thể căn cứ Điều 217.1.e Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 để ra quyết định đình chỉ giải quyết nếu có đương sự khác trong vụ án yêu cầu áp dụng thời hiệu theo Điều 184.2 của Bộ luật này. Thực tiễn xét xử cũng đã khẳng định quan điểm này tại Án lệ số 44/2021/AL, trong đó Tòa án xem xét yêu cầu phản tố như một yêu cầu khởi kiện độc lập và áp dụng đầy đủ quy định về thời hiệu khởi kiện khi có đương sự đề nghị áp dụng.
Vì vậy, việc hiểu rõ các quy định về quyền đưa ra yêu cầu phản tố sẽ giúp các bên trong vụ án nhận thức đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình, qua đó góp phần bảo đảm quá trình giải quyết tranh chấp dân sự được thực hiện kịp thời, thống nhất và hiệu quả hơn.
Trên đây là những chia sẻ pháp lý của TNTP về yêu cầu phản tố trong vụ án dân sự. Hy vọng rằng bài viết này đã cung cấp thêm những thông tin hữu ích, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về bản chất của loại yêu cầu này.
Trân trọng,
Công ty Luật TNHH Quốc tế TNTP & Các Cộng sự
0944892906
