HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN
Ly hôn là một vấn đề phức tạp, việc ly hôn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của vợ, chồng và con mà còn tác động đến các quan hệ xã hội khác có liên quan đến quan hệ hôn nhân đó. Khác với thuận tình ly hôn, việc giải quyết các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản và hệ quả pháp lý trong trường hợp đơn phương ly hôn sẽ mang tính phức tạp hơn vì không nhận được sự đồng thuận từ bên còn lại trong quan hệ hôn nhân. Trong bài viết này, TNTP sẽ phân tích hệ quả pháp lý của việc đơn phương ly hôn dựa trên các quy định của pháp luật.
1. Quan hệ hôn nhân
Quan hệ giữa vợ và chồng không chỉ bao gồm quyền và nghĩa vụ về các hoạt động học tập, làm việc, chính trị, kinh tế, văn hóa… mà đó còn là nghĩa vụ gắn bó, thương yêu, tôn trọng và bảo vệ cho nhau.
Việc ly hôn nói chung và đơn phương ly hôn nói riêng sẽ làm chấm dứt quan hệ nhân thân trước pháp luật, khi đó giữa vợ và chồng không còn ràng buộc và phụ thuộc nhau đối với các nghĩa vụ nói trên. Việc chấm dứt quan hệ nhân thân sẽ không phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên mà sẽ xảy ra sau khi có phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
2. Quan hệ tài sản
Trong trường hợp vụ kiện về đơn phương ly hôn có kèm theo yêu cầu phân chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì Tòa án sẽ ưu tiên giải quyết vụ việc dựa trên sự thỏa thuận và ý chí chung giữa các bên. Nếu các bên không thể thỏa thuận được thì Tòa án sẽ tiến hành giải quyết yêu cầu chia tài sản và yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự 2015, việc phân chia tài sản của vợ, chồng được thực hiện như sau:
– Tài sản riêng: Tài sản riêng của vợ hoặc chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung;
– Tài sản chung: Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: Hoàn cảnh của gia đình của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Trong quá trình phân chia tài sản, pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3. Quan hệ giữa cha, mẹ và con
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt, tuy nhiên các bên vẫn có nghĩa vụ đối với con cái. Theo đó, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cấp dưỡng con sau khi ly hôn như sau:
– Vợ, chồng có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;
– Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con; Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con;
– Người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và phải tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Tuy nhiên, nếu cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Lưu ý: Tòa án sẽ triệu tập các con từ 7 tuổi đến dưới 18 tuổi để lấy lời khai về nguyện vọng sống với bố hoặc mẹ.
Trên đây là những chia sẻ pháp lý của TNTP về hệ quả pháp lý khi đơn phương ly hôn. Hy vọng thông qua bài viết, TNTP có thể giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này. Nếu có thắc mắc, hãy liên hệ với TNTP để được tư vấn cụ thể hơn.
Trân trọng,
Công ty Luật TNHH Quốc tế TNTP và Các Cộng sự
Legal@tntplaw.com
+84903503285
